Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

Thực tập sinh nên cảnh giác với mô hình đa cấp tại Nhật Bản

Tại Việt Nam, đa cấp đã trở thành ác mộng của nhiều gia đình và làm mất đi tương lại của biết bao bạn trẻ. Vì đa cấp mà bỏ học, vay nặng lãi…rồi trở thành một kẻ mồi chài tiếp tục lôi kéo, dụ dỗ những người khác.
Theo thông tin của một bạn du học sinh chia sẻ: Hình thức bán hàng đa cấp đang len lỏi trên đất nước Nhật và một số thực tập sinh, du học sinh Việt tại đây đang bị mồi chài tham gia vào mạng lưới bán hàng này. Tuy không phải tất cả các công ty bán hàng đa cấp đều là xấu, nhưng các bạn vẫn nên cân nhắc kỹ và tránh bị mắc lừa.

Nhất là các du học sinh, lao động Việt Nam mới đang sinh sống và làm việc tại Nhật, đừng có mong muốn làm giàu quá nhanh, nhẹ nhàng có nhiều tiền,…để rồi tiền mất tật mang. Lúc đó bản thân các bạn khổ nhưng bố mẹ bạn, gia đình bạn còn đau đớn hơn.


Mô hình bán hàng đa cấp ( hình ảnh minh hoạ )

Cần cảnh giác với mô hình đa cấp tại Nhật Bản:

Nội dung chia sẻ của bạn du học sinh như sau: “Chào mọi người, mình xin được chia sẻ một số thông tin, hi vọng sẽ giúp được cho mọi người một phần nào đó. Hiện nay, tại Nhật có hai công ty bán các loại thực phẩm chức năng, mỹ phẩm,.. theo mô hình bán hàng đa cấp là UN Skin và Amway. Nếu được ai đó mời đến đây dùng thử sản phẩm, cơ hội nghề nghiệp,… thì các bạn nên cẩn thận nhé. Mình mới có dịch thuật cho mấy lao động, du học sinh Việt Nam bị lừa đảo ở cơ quan cảnh sát và tổ chức hội tiêu dùng.

Tuy mình không biết rõ về công ty này, nhưng theo nhân viên của hội tiêu dùng thì có rất nhiều người đến đây trình báo về tình trạng này nhưng lại không có chứng cứ, căn cứ xác thực để giải quyết. Vì hầu hết tết cả chỉ là trao đổi qua miệng.

Mình không biết thực hư thế nào, nhưng mong rằng sẽ giúp các du học sinh, lao dộng Việt Nam tại Nhật Bản tránh được các trường hợp đáng tiếc xảy ra”.

Đa số người Nhật đều muốn có trên 2 con

Dân số Nhật Bản hiện nay đang dần già hóa,  Nhật Bản đang có những biện pháp để cải thiện tình trạng trên. Theo thống kê từ kết quả điều tra của tổ chức hỗ trợ giải quyết vấn đề suy giảm tỷ lệ sinh có trụ sở tại Tokyo Nhật Bản đã công bố ngày 30/5 cho thấy, có 81,1% người Nhật Bản muốn có trên 2 con, tăng hơn 80% so với năm 2015.

Tuy nhiên, có 70% người được hỏi tỏ ra khá ngập ngừng vì họ chỉ sinh con thứ 2 khi tìm được trường mầm non và điều kiện kinh tế cho phép.
Đây là kết quả cuộc cuộc điều tra được thực hiện hồi cuối tháng 4 vừa qua thông qua qua mạng internet, cuộc điều tra thực hiện khảo sát với 3.000 người đã kết hôn trên toàn Nhật Bản. Khi được hỏi về số lượng con cái lý tưởng (không liên quan đến những kế hoạch sinh con trong thực tế), thì đã có 47,8% muốn sinh 2 đứa con và 29,3% muốn sinh 3 đứa con. Tỷ lệ số người muốn có trên 2 con đạt mức cao nhất kể từ cuộc điều tra từ năm 2013.
Có 73,5 % người được hỏi “những khó khăn khi có người con thứ 2 hoặc thứ 3” thì  84,4% là do kinh tế và 43% là do tuổi tác. Cùng thời điểm đó có 40% người Nhật trả lời chỉ muốn có 1 con nếu như không tìm được trường mầm non.

Chủ tịch điều hành Akiyama Kai chia sẻ : “Kinh tế tiến triển tốt làm cho sự mong muốn có con tăng cao. Cần phải xây dựng xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi dạy con”. Nhật Bản là một trong những nước có tỷ lệ người già cao nhất thế giới, tình trạng thiếu nguồn lao động, thiếu những lao động trẻ càng ngày trở thành mối lo ngại đối với Nhật Bản.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Nhật Bản và bài học xử lý thảm họa môi trường biển Minamata

Nhật Bản là đất nước có nền công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới hiện nay, nhưng lịch sử quốc gia này cũng từng trải qua một bài học vô cùng đau đớn mang tên "Căn bệnh Minamata", thảm họa từ việc chậm xử lý các ảnh hưởng của nước thải công nghiệp ra môi trường
Cận cảnh cá chết hàng loạt và dạt và ven bờ Vũng Áng (Hà Tĩnh)
Vào đầu tháng 4, cá nuôi lồng bè của một ngư dân gần khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ An, Hà Tĩnh) bắt đầu hiện tượng chết hàng loạt. Hiện tượng bất thường này lan rộng ra cả cá, tôm, nuôi bằng nguồn nước biển, cá tự nhiên dọc 200km bờ biển Kỳ An (Hà Tĩnh) tới Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)
Tính đến ngày 25/4 gần 60 tấn các tự nhiên chết dạt lên bờ biển, chủ yếu là các loại cá sống ở tầng đáy. Anh Hoàng Sơn (Hà Tĩnh) chia sẻ: “Trong những ngày này, con cá quê tôi đang phơi bụng và dạt vào chết đống ở ven bờ, cá chết ở Hà Tĩnh, cá chết tận Quảng Bình, Quảng Trị. Báo chí lên tiếng, quan chức lúng túng, bà nội trợ sợ mua phải cá chết do nhiễm độc. Trong khi đó nhà đầu tư nước ngoài thì nói không có chuyện làm công nghiệp gang thép mà không ảnh hưởng môi trường, “hãy chọn đi, nhà máy thép hay là tôm cá!”
Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài Nguyên và Bộ Nông nghiệp đều nhất trí cho rằng: Các nguyên nhân cá chết do bệnh dịch, động đất, tràn dầu đều bị loại trừ mọi nghi vấn đang đổ dồn vào Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh khi doanh nghiệp này có đường ống xả thải chôn dưới đáy biển. Vài ngày trước khi xảy ra cá chết hàng loạt, công ty đã tiến hành súc rửa đường ống. Khoảng 300 tấn hóa chất nhập về để làm việc này được đánh giá là cực độc.
Nhật Bản đã từng có những kinh nghiệm đau buồn về việc xử lý chậm các ảnh hưởng của nước thải công nghiệp ra môi trường. Điều này đã gây ra thảm họa có tên gọi là căn bệnh Minamata.
Thảm họa Miatamata đã khiến cá chết hàng loạt và hàng nghìn người đã mắc những căn bệnh khó hiểu. Họ gặp khó khăn trong việc đi lại, nói và bị co giật, các bác sĩ thông báo hệ thần kinh trung ương của các bệnh nhân đều bị tổn thương. Các nhà khoa học xác định rằng chính những chất kim loại nặng mà nhà máy Chisso thải ra là nguyên nhân của căn bệnh Minamata. Một lượng cực lớn thủy ngân được tìm thấy trong các loại cá sống ở vịnh Minamata và sau đó đã tác động đến hệ thần kinh của những người ăn các loại cá này.
Tỉnh Kumamoto (nơi có vịnh Minamata bị nhiễm độc) đã phải chi 48,5 tỷ yên (khoảng 10 ngàn tỷ VNĐ) để nạo vét lòng biển trong vòng 14 năm, tất cả cá trong Vịnh thời gian đó được vây lưới đánh bắt và công ty gây tai nạn là Chisso đã mua lại toàn bộ cá để tiêu huỷ). Đến nay thì đã sạch nhưng những nạn nhân năm đó vẫn còn di chứng và đang điều trị.
Điều cấp thiết nhất hiện nay là các nhà quản lý cần nhanh chóng xác nhận ra nguyên nhân của các thảm họa môi trường để có các biện pháp phù hợp tránh để tình trạng này tiếp diễn gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường và con người kéo dài.

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

6 điều nên biết về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản

Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản được coi là đạt hiệu quả nhất trên thế giới. Nhờ đó mà hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới như Honda, Toyota, Samsung… đều là các doanh nghiệp Nhật Bản.
Bài viết sau đây sẽ giúp người lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản không khỏi bỡ ngỡ về văn hóa doanh nghiệp nơi đây.
 Công việc làm trọn đời


Các doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng phương pháp “ công việc làm trọn đời” để nâng cao hiệu quả công việc. Công việc làm trọn đời không chỉ giúp làm tăng năng suất công việc, khả năng cống hiến mà còn giúp công tác nhân sự của doanh nghiệp bình ổn. Doanh nghiệp sẽ được sở hữu những nhân viên và chất lượng công việc sẽ được tăng theo kinh nghiệm tích lũy. Bên canh đó, các công nhân Nhật Bản thường thích làm một công việc suốt đời, ít muốn thay đổi công ty hơn so với các nhân viên nước khác.
Tinh thần sáng tạo trong công việc
Khía cạnh là người nước ngoài nhìn vào thường nhận định rằng làm việc tại các công ty Nhật Bản rất áp lực, nặng nề, có sự phân cấp, rập khuôn. Nhưng đối với người Nhật Bản, chăm chỉ làm việc và làm hết khả năng của mình vì sự phát triển của công ty được coi là chuẩn mực.
Trong chuyên môn của mình, người Nhật luôn cố gắng sáng tạo ra những sản phẩm tốt nhất trong khả năng của mình. Các chiến lược Marketing và phát triển kinh tế luôn tạo ra những cách thức mới lạ và được cả thế giới ngả mũ kính phục vì tính hiệu quả vượt trội.
Người Nhật Bản cư xử khác nhau theo từng môi trường
Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, người Nhật lại có cách cư xử khác nhau. Trong công việc họ luôn cứng nhắc, rập khuôn. Nhưng sau giờ làm, họ trở nên thoải mái, cởi mở hơn bao giờ hết.
Làm việc theo nhóm

Phương pháp làm việc theo nhóm, thường được các doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng để thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ trong nhóm và nâng cao hiệu quả công việc.

Các công nhân viên có thể luân phiên làm các công việc trong nhóm để giảm sự nhàm chán và phát triển khả năng thay thế phòng khi người nào đó trong nhóm vắng mặt. Ngoài ra, các nhóm công nhân viên còn kiểm soát được chất lượng.
Sống vì tập thể
Nhật Bản rất đề cao giá trị tập thể. Điều này ngược lại hoàn toàn với người Mỹ đánh giá cao giá trị cá nhân. Theo quan điểm của Nhật Bản, tinh thần đồng đội là yếu tố tiên quyết đối với thành công của một tập thể. Nhưng nếu quá coi trọng vai trò tập thể thì có thể dung túng những cá nhân không biết phấn đấu, ẩn mình dưới một tập thể lớn mạnh. Ngược lại nếu quá coi trọng thành tích các nhân mà không quan tâm đến lợi ích chung điều này sẽ dẫn đến sự thất bại của doanh nghiệp. Điều quan trọng người lãnh đạo phải biết cần bằng giữa 2 khái niệm “ tập thể” và “ cá nhân”
Làm hết sức, chơi hết mình
Sau những khoảng thời gian áp lực trong công việc, người Nhật tìm mọi cách để giải tỏa street. Họ thường lui tới các quán bar, quán karaoke… Tại đây mọi người được thoải mái hát hò, quên đi khó khăn, mệt nhọc.
Giải trí là một phần quan trọng không kém trong một ngày làm việc, giúp giải tỏa căng thẳng và giữ thăng bằng trong công việc. Bạn hãy nhớ, khi đi chơi hoặc làm bất kỳ việc gì với đồng nghiệp, bạn hãy luôn là một phần không tách rời của nhóm.

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Lý do tại sao người Nhật lại không muốn sinh con?

Nhật Bản hiện là quốc gia có dân số già nhất trên thế giới, trung bình cứ 1 người Nhật thì có 1 người già trên 65 tuổi. Tốc độ già hóa quá nhanh chủ yếu là do tỷ lệ sinh con giảm mạnh, thanh niên Nhật ngày càng sợ kết hôn, các đôi vợ chồng thì né tránh chuyện sinh con.
50 năm trước trường tiểu học Namoku đã từng có hơn 1200 học sinh, còn nay cả trường chỉ có vỏn vẹn 37 em, riêng khối lớp 1 có duy nhất 1 học sinh. Tỷ lệ sinh ở Nhật đã giảm liên tục từ 5 trẻ em trên 1 cặp vợ chồng vào những năm 60 nay xuống chỉ còn trung bình 1.5 trẻ em.



Dự báo dân số Nhật Bản theo các nhóm tuổi sau năm 2055


Theo nhiều chuyên gia đánh giá người Nhật ngại sinh con, thờ ơ với việc lập gia đình có thể do những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Người Nhật sinh ít con như vậy là do sức ép công việc ở Nhật quá nặng nề. 

Anh Sataru một công chức thường xuyên làm việc từ 5h sáng đến 9h tối, khi được hỏi vì sao anh vẫn chưa kết hôn anh Sataru lắc đầu "mendokusai" nghĩa là quá phiền phức. Nghĩ mà xem, đến cơ quan thì bị xếp mắng về nhà nếu lại cãi nhau với vợ thì sẽ thấy thế nào?
Vậy đấy thanh niên lẩn chánh những rắc rối hôn nhân thì việc ít trẻ em được sinh ra cũng là điều dễ hiểu.



Người Nhật ít sinh con một phần là do sức ép công việc quá nặng nề


Thứ hai: Tỷ lệ sinh con thấp một phần lớn là do quan niệm của người Nhật

Theo đó, đàn ông phải là trụ cột của gia đình. Theo một khảo sát thì có đến 1/3 phụ nữ Nhật mong muốn bỏ việc và giành toàn bộ thời gian ở nhà làm nội trợ sau khi kết hôn, họ kỳ vọng người chồng tương lai của mình sẽ cáng đáng hết vấn đề tài chính cho toàn bộ gia đình, bố mẹ của 2 bên.
Kỳ vọng này là gánh nặng quá lớn đối với rất nhiều đàn ông Nhật hiện nay. Chưa kể là, kinh tế trì trệ nhưng Nhật Bản hiện vẫn là một trong những quốc gia có chi phí sinh hoạt đắt đỏ nhất trên thế giới.

Ước tính trong vòng 1 thập kỷ qua, chi phí nuôi con tại Nhật đã tăng đến 40%. Năm ngoái cả nước Nhật chỉ có hơn 1 triệu trẻ em mới sinh, nghĩa là chỉ khoảng 20 năm nữa thôi Nhật Bản sẽ thiếu lao động trẻ một cách trầm trọng.

Trước tình hình này chính phủ Nhật đã nhiều lần xem các chính sách khuyến sinh như: giảm thuế cho các cặp vợ chồng có con hay xây dựng thêm các trung tâm trông trẻ để phụ nữ có thể vừa đi làm vừa nuôi con. Nhưng cho đến nay tất cả các dự định vẫn chỉ năm im trên giấy tờ và trong các bài phát biểu.

Tờ Global New cho rằng, cứ đà này thì chỉ 1000 năm nữa thôi Nhật Bản sẽ trở thành đất nước mặt trời lặn.

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Nhật Bản thay đổi giờ làm, ảnh hưởng gì tới thực tập sinh Việt Nam

Nhật Bản là nước có dân số già, tỷ lệ sinh đẻ thấp. Vì vậy mà nhu cầu nguồn lao động rất lớn, nhưng nguồn lực trong nước không đáp ứng kịp. Do đó chính phủ Nhật Bản đã phải tiếp nhận nguồn nhân lực ngoài nước.
Đi XKLĐ Nhật Bản, người lao động Việt Nam đều mong muốn có một công việc ổn định, được làm thêm ngoài giờ nhiều. Vì các doanh nghiệp, xí nghiệp Nhật Bản trả tiền làm thêm giờ rất cao. Thậm chí, nhờ những khoản tiền làm thêm giờ đó, người lao động Việt Nam mới có tiền gửi về cho gia đình.
Nhưng hiện nay, Nhật Bản đang thay đổi thời gian làm việc để nâng cao hiệu quả, cắt giảm lương làm thêm giờ, nhằm thúc đẩy một lối sống lành mạnh cho người lao động.
Người dân Nhật Bản (ảnh sưu tầm)
Nỗi lo của các bạn thực tập sinh Nhật Bản.
Cho dù chương trình này, mới được chính phủ Nhật thí điểm ở một số công ty. Nhưng cũng là một mối lo ngại cho người lao động Việt Nam làm việc tại đây. Nội dung của chương trình này là trả thêm lương cho những công nhân làm việc từ 5 giờ đến 8 giờ sáng, và cấm làm việc sau 8 giờ tối. Việc làm này với mục đich là tạo ra một sự cân bằng giữa công việc và lối sống lành mạnh hơn, hạn chế tối đa các vụ tử tự do áp lực công việc.
Bạn Linh(Nghệ An) chia sẻ:” Em rất lo lắng khi biết chính phủ Nhật Bản sắp thay đổi giờ làm việc. Bởi vì, lương cơ bản ở Nhật tuy cao, nhưng chi phí sinh hoạt ở đây đắt đỏ hơn Việt Nam nhiều. Bọn em có tiền gửi về nhà, chủ yếu là từ công việc làm thêm giờ, giờ không được làm thêm giờ nữa thì lấy đâu ra tiền.”
Hầu hết, khi tham gia vào chương trình XKLĐ Nhật Bản, các bạn đều có thắc mắc chung là có được làm thêm giờ nhiều không.
Bạn Dũng (học viên tại trung tâm) cho hay em được biết Nhật Bản trả lương làm thêm giờ rất cao. Em muốn có công việc ổn định bên Nhật, đồng thời được làm thêm giờ nhiều, kiếm nhiều tiền gửi về cho gia đình.
Qua những chia sẻ trên, chúng ta có thể thấy chính sách này của chính phủ Nhật Bản có ảnh hưởng rất lớn đến người lao động Việt Nam tại đây. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam có thể chọn cách” sống chung với lũ”. Thay vì tăng ca buổi tối, các bạn có thể tăng ca buổi sáng, thời gian rảnh buổi tối, tranh thủ học tiếng Nhật…. Ban đầu, cuộc sống của các bạn có thể bị tráo trộn một chút. Nhưng đến khi trở thành thói quen, thì bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn nhiều.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Tăng lương tối thiểu lên 1000 Yên/giờ cho người lao động Nhật Bản

Thủ tướng chính phủ Shinzo Abe (Nhật Bản) định hướng tăng mức lương tối thiểu lên mức 1000Yên/ 1 giờ. Trong hội nghị tài chính chính phủ hôm qua, thủ tướng Shinzo Abe đã đưa ra định hướng hàng năm tiền lương tối thiểu sẽ tăng 3% và đạt mức 1000Yên/1giờ.
Thủ tướng Shinzo Abe đặt định hướng tăng mức lương tối thiểu lên mức 1000Yên/ 1 giờ.
Hội nghị tài chính tại Nhật Bản
Trong hội nghị tài chính chính phủ hôm qua, thủ tướng Abe đã đưa ra mục tiêu hàng năm mức lương tối thiểu sẽ tăng 3% và đạt mức 1000Yên/1giờ (hiện tại tiền lương tối thiểu trung bình là 798Yên/1giờ, năm 2015 là năm có mức lương tăng cao nhất đạt 3% tương đương 18Yên). Việc tăng tiền lương tối thiểu sẽ làm cho nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng lên, và hướng tới mục dích đạt GDP 600 nghìn tỷ yên (hơn 5000 tỷ USD là một trong các chính sách phát triển mà ông Abe mới đưa ra).

Tiền lương của người lao động tăng lên 1000 yên/ 1 giờ
Chắc mọi người có từng biết đến kế hoạch phát triển, do thủ tướng Shinzo Abe đưa ra vào năm 2012, và gần đây ông lại đưa ra kế hoạch Abenomics lần 2 vào ngày 24/9, với 3 định hướng chính sau đây :
1- Nền kinh tế tăng trưởng với mục tiêu tổng sản phẩm trong nước đạt 600 nghìn tỷ yên (tương đương 5 nghìn tỷ USD), tăng so với mức 500 nghìn tỷ yên hiện tại.
2- Nâng cao, hỗ trợ cho các gia đình có trẻ em để giúp nâng tỷ lệ sinh lên 1,8 ca sinh/ 1 phụ nữ, hiện tại tỷ lệ sinh là 1,43 vào năm 2013 (một trong những nước thấp nhất thế giới). Tiêu chuẩn chuẩn thế giới là 2,08.
3- Hoàn thiện chế độ an sinh xã hội, bao gồm việc giúp đỡ, hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh khó khăn, vừa phải chăm sóc người cao tuổi. (Theo thống kê cuối 2015 dân số Nhật khoảng 128 triệu người, dự đoán đến năm 2060 thì giảm chỉ còn khoảng 86,7 triệu người, trong đó gần 40% dân số là người cao tuổi (trên 65 tuổi).
Tuy nhiên các mục tiêu của thủ tướng Abe vẫn đang đặt ra nhiều câu hỏi hoài nghi từ phía chuyên gia khi chả thấy đá động đến biện pháp cụ thể.