Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Văn hóa khi đi xe buýt của Nhật Bản

Đến với Nhật Bản để khám phá những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp của xứ sở hoa anh đào. Bên cạnh đó đây cũng là dịp để bạn được tiếp xúc với nền văn hóa và con người Nhật Bản.
Đây là quốc gia được mọi người biết đến là một đất nước có nền văn hóa văn minh lịch sự, sự giao tiếp giữa con người với nhau luôn có chuẩn mực. Đặc biệt là văn hóa ứng xử trên xe buýt phần nào thể hiện rõ nhất về văn hóa của người Nhật Bản.
Name
Khi bạn du lịch tới Nhật Bản, chắc chắn rằng bạn sẽ cần tới phương tiện để di chuyển. Ở Nhật, phương tiện xe buýt là lựa chọn tốt nhất, vừa thuận tiện vừa an toàn dành cho du khách có nhu cầu đến các địa điểm để tham quan cũng như đi ăn uống  trong chuyến du lịch của mình.
Name
Di chuyển bằng phương tiện xe buýt rất phổ biến ở Nhật nên bạn rất dễ dàng có thể bắt được xe buýt và tới nơi mình muốn. Người Nhật Bản luôn khuyến khích mọi người dân sử dụng phương tiện công cộng để giảm thiểu chi phí và cũng để bảo vệ môi trường, tránh được việc bị ùn tắc giao thông.
Dạo qua các phố phường của Nhật, bạn sẽ không  bao giờ bắt gặp tình trạng tai nạn hay tắc đường vì người Nhật luôn có những nguyên tắc rất nghiêm ngặt về văn hóa nơi công cộng. Nhất là văn hóa khi tham gia giao thông. Chính vì vậy mà bạn sẽ được tận hưởng không khí trong lành và thoáng mát khi đi dạo trên những con phố rất ít tiếng ồn do phương tiện đi lại gây ra.
Name
Trong chuyến du lịch, việc di chuyển bằng xe buýt sẽ giúp cho du khách có thể đi tới thăm nhiều địa điểm nổi tiếng có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp và có thể đi tới các trung tâm mua sắm chỉ cần có xe buýt. Khi bạn được sống với một môi trường của người Nhật Bản bạn sẽ thấy được sự khác biệt hoàn toàn lớn trong văn hóa nơi công cộng của người Nhật Bản mà rất ít nước có được.
Du lịch Nhật Bản bạn sẽ không cần phải đến những phố ẩm thực hay những di tích nổi tiếng mà chỉ cần đi trên những tuyến xe bus cũng đã cảm nhận được sự khác biệt của một trong những cường quốc chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội thuộc top hàng đầu thế giới.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

[11/2] Quốc khánh Nhật Bản

Ngày quốc khánh hay còn gọi là Ngày lập quốc ( 建国記念の日- Kenkoku Kinen no Hi ) là một ngày đại lễ quốc gia của Nhật Bản được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng 2 hằng năm nhằm ăn mừng ngày thành lập nên đất nước Nhật Bản và Thiên hoàng đầu tiên Jimmu (Thần Vũ Thiên Hoàng)
Lịch sử
Nguồn gốc của Ngày lập quốc trước đây là ngày đầu tiên của năm mới theo lịch Âm. Theo cuốn Nihonshoki (một bộ sách cổ về lịch sử Nhật Bản) thì Thiên hoàng Jimmu đã lên ngôi Hoàng đế kể từ ngày đầu tiên của tháng đầu tiên, cũng tức là ngày đầu tiên của năm mới.
Thiên hoàng Jimmu
Thời Minh Trị, chính phủ Nhật Bản đã ấn định ngày để kỉ niệm ngày trọng đại này của đất nước. Thời điểm đó cũng trùng với thời điểm Nhật Bản chuyển từ lịch Âm sang dùng lịch Dương (Tây lịch) vào năm 1873. Chính phủ Minh Trị lúc đó đã ấn định ngày lập quốc là ngày 1/1 năm 1873 theo lịch âm, theo lịch dương thì hôm đó là ngày 29/1/1872. Tuy nhiên, người dân lúc đó lại lầm tưởng ngày này sang ngày Tết Âm lịch, thay vì là Ngày lập quốc. Thế là Chính phủ đổi ngày lập quốc sang ngày 11/2/1873 sau khi cho rằng mình tính toán “chính xác” ngày Thiên hoàng Jimmu ra đời, và kể từ đó, ngày 11/2 hằng năm trở thành ngày quốc khánh của Nhật Bản.
Thực chất ngày lập quốc được dùng để kỉ niệm Thiên hoàng và được đặt tên là 紀元節(Kigensetsu), được Thiên hoàng Minh Trị phê duyệt ấn định không những nhằm mục đích thống nhất ý chí người dân Nhật Bản hướng đến Thiên hoàng, mà còn nhằm củng cố quyền lực của ông, sau khi hạ bệ Mạc phủ Tokugawa, khôi phục quyền cai trị vào tay Thiên hoàng.
Ngày Kigensetsu được tổ chức rất long trọng với nhiều lễ hội và các đoàn diễu hành, và nó nghiễm nhiên trở thành 1 trong 4 ngày lễ lớn nhất tại Nhật Bản.
Tuy nhiên, đến khi Nhật Bản thua trận ở Thế chiến thứ II, kéo theo sự phế truất quyền lực của Thiên hoàng (từ sau chiến tranh, người ta gọi các đời Thiên hoàng về sau là Nhật hoàng), ngày Kigesetsu cũng bị bãi bỏ. Mỉa mai thay khi ngày 11/2 cũng là ngày tướng MacArthur phê chuẩn bản sơ thảo của Nghị viện Nhật Bản năm 1946, đưa Nhật Bản đi theo con đường dân chủ tư sản và cũng là người đóng góp rất lớn trong công cuộc tái thiết và phát triển Nhật Bản sau này để trở thành “nước Mỹ của châu Á”.
Cùng năm 1946, Ngày lập quốc được tái thiết lập, vẫn giữ nguyên là ngày 11/2 hằng năm.
Hiện nay
Hiện nay ý nghĩa “ngày vì Thiên hoàng” đã không còn nữa, thay vào đó, nó đóng vai trò như một ngày quốc khánh. Mọi người sẽ phất cờ Nhật không chỉ nhằm kỉ niệm ngày nước Nhật ra đời à còn mang ý nghĩa dân tộc Nhật Bản đoàn kết một khối, và cùng nhau xây dựng đất nước, thay cho chủ nghĩa dân tộc.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2016

Ngôi chùa Todaiji cổ kính nhất Nara Nhật Bản

Ngôi chùa Todaiji– Ngôi chùa cổ kính nhất Nara Nhật Bản – Tōdai-ji hay còn được gọi với cái tên Đông Đại Tự là một ngôi chùa Phật giáo nằm ở thành phố Nara, Nhật Bản. Điện chính của chùa là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất Thế Giới. Ngôi chùa này cũng là một trong những trung tâm dạy Đạo Phật phái Hoa Nghiêm tông ở Nhật Bản.

Todaiji - Ngôi chùa cổ kính nhất Nara Nhật Bản
Chùa Đông Đại tồn tại gần 1.500 năm, đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa cho nên không còn giữ được sự nguy nga, đồ sộ của ngôi chùa như ở thời kỳ đầu. Trong quần thể kiến trúc lúc ban đầu của chùa Đông Đại có hai tòa nhà cao 100 mét. Vào thời điểm ấy, sau những tòa tháp ở Ai Cập thì đây là hai tòa nhà cao nhất thế giới. Hiện nay thì hai tòa nhà này không còn nữa. Tòa nhà trong hiện tại được trùng tu hoàn thành vào năm 1709 và nhỏ hơn 30% so với tòa nhà trước đó.
Ngôi chùa Todaiji cổng tam quan của chùa Đông Đại (Nandaimon – Nam Đại Môn) được xây dựng từ năm 1199 cũng là một trong những công trình kiến trúc vĩ đại của chùa. Cổng tam quan hiện tại được tái thiết theo đúng hình dáng cũ. Cổng có 18 cột trụ chống đỡ, mỗi cái cao 20 mét, với đường kính hơn 1 mét.

Todaiji

Todaiji - Ngôi chùa cổ kính nhất Nara Nhật Bản
Hai pho tượng hộ pháp bằng gỗ đứng hai bên của cổng tam quan của chùa cao gần 8 mét, có tuổi thọ trên 800 năm. Pho tượng được điêu khắc bởi người thợ chạm gỗ bậc thầy là ông Unkei. Tượng được ghép thành từ 3.115 miếng gỗ.
Trong khuôn viên của chùa, trải dài hơn 1km theo trục Bắc-Nam và Đông-Tây, tính từ Đại Phật điện, là hàng loạt các công trình kiến trúc khác nhau, gồm có các ngôi điện và kho báu, nơi lưu giữ các bảo vật quốc gia. Trong đó có bảy công trình được công nhận là di sản quốc gia. Là một trong những ngôi chùa cổ lớn nhất ở Nhật Bản, chùa Đông Đại sở hữu rất nhiều bảo vật rất có giá trị về văn hóa, lịch sử. Chùa hiện có 20 pho tượng Phật và tác phẩm nghệ thuật được xếp loại di sản quốc gia.
Todaiji - Ngôi chùa cổ kính nhất Nara Nhật Bản
Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa Đông Đại gồm có Đại Phật điện, hai tòa tháp 7 tầng, một giảng đường và khu tịnh xá. Bên cạnh đó còn có nhiều công trình lịch sử khác, kể cả tòa điện Shoro (Kho báu Hoàng gia), nơi lưu trữ kho bảo vật của Thiên hoàng Shomu.
Liên Hoa điện hiện hữu trong quần thể kiến trúc chùa Đông Đại hiện tại là một công trình có tuổi thọ lâu đời nhất trong quần thể.
Đặc biệt, chùa hiện lưu giữ được những bức chạm trổ rất tinh xảo, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ Nhật Bản, những bức tượng cổ bằng đồng cùng hàng trăm di vật, cổ vật quý hiếm. Bên cạnh đó, nghệ thuật vườn cảnh độc đáo và hài hòa với kiến trúc đã tạo cho chùa Đông Đại thành một quần thể di tích lịch sử, tâm linh vô cùng ngoạn mục và tú lệ, có sức thu hút hiếm có, khiến nơi đây trở thành địa danh linh thiêng và hấp dẫn đối với du khách trong nước cũng như quốc tế.

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

Tìm hiểu về văn hóa và cách hành xử của người Nhật

Du học tại Nhật luôn luôn là mơ ước của nhiều học sinh, sinh viên. Đến với đất nước mặt trời mọc, với nguồn tài nguyên thế mạnh duy nhất đó là con người, bạn sẽ được trau dồi về kỹ năng, tiếp nhận một kho tàng kiến thức phong phú của môi trường quốc tế, được mở rộng tầm nhìn về một nền văn hóa nước bạn.Vậy có bao giờ bạn tự hỏi làm thế nào để sống ở Nhật? Và hành trang trước khi lên đường gồm những gì?… Bạn cần phải tham khảo và chuẩn bị kỹ trước khi đến với xứ sở hoa anh Đào. Đầu tiên, để vào được Nhật Bản, bạn cần phải có visa của Đại sứ quán hoặc Tổng lãnh sự quán Nhật Bản ở nước bạn, cho biết về mục đích và thời gian lưu trú lại tại Nhật. Khi qua được vòng này, bạn cũng cần tìm hiểu về các văn hóa của đất nước của những võ sĩ này:
1/ Quy tắc chào hỏi: đối với người Nhật, đây là một nét văn hóa tạo ra phong cách riêng của họ. Và mỗi kiểu chào sẽ thể hiện những phong thái khác nhau.
Quy tắc hành xử của người Nhật
+ Kiểu Eshaku – khẽ cúi chào: chỉ hơi cúi khoảng 15 độ trong 1 giây, kiểu chào dành cho những người đồng lứa, khách hàng hoặc cấp trên ở hành lang hoặc gặp nhiều lần trong ngày.
+ Kiểu Keirei – cúi chào bình thường: kiểu này được người Nhật áp dụng ngay cả khi ngồi nếu có khách đến mà muốn chào thì đặt hai bàn tay xuống, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-20 cm và cúi đầu xuống.
+ Kiểu chào trang trọng nhất – Kiểu Saikeirei: cúi từ từ xuống thấp khoảng 45 độ và giữ tư thế trong thời gian hơi lâu. Đây là hình thức trang trọng, biểu hiện sự thành kính sâu sắc, khi thích nghi với kiểu chào truyền thống của người Nhật họ sẽ kết hợp với việc bắt tay và cúi chào vừa thể hiện sự tôn kính, vừa là một động tác thân thiện.
+ Giao tiếp bằng mắt: ánh mắt là cửa sổ tâm hồn, nó thể hiện được cảm xúc của con người khi giao tiếp với nhau. Chính vì thế, người Nhật khi bắt tay hay hay cúi chào cũng sẽ nhìn vào đối phương để thể hiện sự tôn trọng.
2/ Văn hóa sử dụng thang máy: văn hóa của người đi bộ, người Nhật luôn luôn khiến thế giới ngạc nhiên về lối ứng xử của mình nơi công cộng, khi đi thang cuốn, thang máy, đi tàu, siêu thị, nhà hàng – quán ăn, hay là nơi vứt rác. Và xếp hàng ở những nơi công cộng đã làm nên nét văn hóa riêng của người Nhật Bản. Nếu bạn cảm thấy có quá nhiều văn hóa công cộng ở đây thì hãy nhớ khi đến Nhật “Văn hóa xếp hàng ở mọi nơi” rất quan trọng và “làm phiền người khác” là điều tối kỵ. Chính vì vậy, các du khách nói chung và du học sinh nói riêng hãy để lại ấn tượng tốt đẹp khi đến với đất nước xinh đẹp này nhé.
3/ Văn hóa ngôn ngữ, trao danh thiếp: Người Nhật rất coi trọng việc trao danh thiếp, đặc biệt là trong lần đầu gặp gỡ. Về cơ bản thì khi trao đổi danh thiếp, người đưa phải hướng danh thiếp về hướng người nhận sao cho khi tiếp nhận có thể đọc được ngay, và thường là những người nhỏ tuổi hơn sẽ trao danh thiếp cho người lớn tuổi trước.
4/  Ý thức của người Nhật về thời gian: Người Nhật có câu: “Nếu bạn không đến sớm 10 phút thì hãy đến đúng giờ” cho thấy họ rất có nguyên tắc trong vấn đề thời gian của mình. Điều này có lẽ khó khăn với các du học sinh Việt Nam trong thời gian đầu nhưng hãy cố gắng làm quen với nếp sống của ông trùm “Trà đạo”.
5/  Văn hóa từ chối: Từ chối là cả một nghệ thuật mà bạn cần phải học hỏi từ người Nhật.
6/ Giao tiếp với hàng xóm: đến Nhật bạn hãy cố gắng duy trì mối quan hệ hòa hợp với hàng xóm bằng những hành xử văn minh nhé, nếu không bạn có thể đến đồn cảnh sát bất kì lúc nào nếu bị hàng xóm phàn nàn đấy.
7/ Khăn tay – món đồ không thể thiếu của người Nhật: Theo một cuộc khảo sát về khăn tay của người Nhật thì có đến 85% người Nhật mang khăn tay theo bên mình, thể hiện sự cầu kỳ và duy mỹ của người Nhật. Hình ảnh chiếc khăn tay còn cho người đối diện thấy được sự tao nhã, cẩn trọng và chỉnh chu của người Nhật. Trong mỗi hoàn cảnh, chiếc khăn tay sẽ cho bạn những ý nghĩa khác nhau. Chính vì thế người Nhật coi khăn tay như một nét văn hóa của mình.
Và cuối cùng nếu bạn muốn đời sống của mình ở Nhật tốt hơn thì có thể tìm việc làm thêm dành cho các du học sinh tại đây, tuy nhiên, bạn phải đảm bảo được việc học của mình thì ban giám hiệu mới có thể cấp cho bạn chứng nhận được đi làm thêm nhé.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Cung điện Hoàng Gia Nhật Bản

Cung điện Hoàng Gia là nơi ở của Nhật Hoàng, nằm trên khu đất rộng khoảng 7,4 km2. Khuôn viên Hoàng Cung rộng lớn như một công viên, chia làm 2 phần : cung điện chính và tư dinh Hoàng Gia. Hoàng Cung ngày nay được xây dựng trên nền của Lâu đài Edo cũ. Lâu đài Edo là dinh thự của sứ quân Tokugawa đã nắm thực quyền cai trị nước Nhật từ năm 1603 đến năm 1867. 
Cung điện Hoàng Gia Nhật BảnNăm 1868 chế độ sứ quân bị dẹp bỏ, vua nắm quyền hành tuyệt đối trong tay trở lại, và quyết định dời đô từ Kyoto về Tokyo.Phức hợp lâu đài Edo đã trở thành nơi cư trú mới của Nhật Hoàng và được đổi tên thành Thành Tokyo tháng 10 năm 1868, và sau đó đổi tên thành Hoàng Thành vào năm 1869.
Cung điện Hoàng Gia Nhật BảnHoàng cung được bao quanh bởi hào sâu. Hoàng cung bị bom đạn thời đệ nhị thế chiến thiêu hủy nặng nề. Hoàng cung mới được xây cất trở lại gần như hoàn toàn, và hoàn thành năm 1968.
Cung điện Hoàng Gia Nhật BảnTại khu Hoàng cung của Vua Nhật có một cây cầu tuy nhỏ nhưng rất nổi tiếng, được xem như là biểu tượng của thành phố, cầu Nijubashi. Du khách nào đến tham quan Tokyo mà không chụp được hình ở cầu này, kể như chưa đi Tokyo.
Cung điện Hoàng Gia Nhật Bản
Cầu Nijubashi Bridge dẫn tới cung điện Vua Nhật (Imperial Palace). Dân Nhật chỉ được qua cầu này 2 lần trong năm: ngày đầu năm và ngày sinh nhật của Vua, 23 tháng 12. Lúc đó gia đình Hoàng gia sẽ đứng trên ban công để vẫy chào quần chúng.
Cầu này còn có tên là cầu mắt kính (eyeglass bridge). Tại sao mắt kính? Các bạn thử nhìn kỹ hình cầu này, có thấy hình dáng cầu giống mắt kính không? Cầu này ngày xưa làm bằng cây, có hai tầng. Tiếng Nhật Nijubashi (Double Bridge) có nghĩa là cầu hai tầng, hay cầu đôi. Cầu mới bằng gạch chỉ một tầng như hiện tại chúng ta thấy mà thôi.

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Tục cưới xin của người Nhật

Theo thống kê năm 1996, ở Nhật Bản, cứ 40 giây lại có một đám cưới, và trong số hơn 795.000 đám cưới vào năm đó có khoảng 27.000 đám cưới giữa người Nhật Bản với người nước ngoài.
Tuổi kết hôn trung bình hiện nay của nam giới là 29,8, và nữ giới là 27,3. Vào đầu những năm 70, tuổi lập gia đình trung bình của nữ là dưới 25 tuổi nhưng xu hướng ngày nay là lập gia đình muộn hơn. Trong khi đó, luật pháp quy định tuổi lập gia đình đối với nữ là 16 và nam là 18, nhưng nếu kết hôn khi chưa đến 20 tuổi phải có sự đồng ý của bố mẹ.
Các cuộc hôn nhân sắp đặt là đặc điểm rất Nhật Bản. Đây là những cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu đôi lứa mà qua giới thiệu của người mai mối khi thấy hai người hợp với nhau. Thông thường, cha mẹ của người con trai hoặc người con gái đưa ảnh của con mình cùng một số thông tin về bản thân, cho người mối mai và đề nghị tìm vị hôn phu hoặc hôn thê thích hợp. Nếu tìm được, hai người sẽ được giới thiệu với nhau trước sự có mặt của cha mẹ trong một cuộc gặp gỡ chính thức, tiếng Nhật gọi là miai. Trong buổi gặp gỡ này, họ nói chuyện về sở thích cá nhân, về kiểu gia đình mà họ mong muốn và những vấn đề khác với mục đích xem hai bên hòa hợp nhau tới mức nào.
Cùng với quá trình dân chủ hóa sau khi chiến tranh kết thúc, các cuộc hôn nhân tự do, không thông qua sắp đặt, tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, kiểu hôn nhân sắp đặt vẫn có nhiều người theo. Vào năm 90, các cuộc thăm dò với đối tượng là những người mới lập gia đình trong các công ty hàng đầu của Nhật cho thấy, đến 20% ủng hộ hôn nhân sắp đặt.
Về lễ cưới, có thể nói lễ cưới mang tính chất quan trọng nhất trong 4 lễ lớn ở Nhật, thường được gọi là kankon sosai, bao gồm lễ thành nhân, lễ cưới, lễ tang và lễ cúng tổ tiên. Để chính thức hóa cuộc hôn nhân phải đăng ký với chính quyền địa phương nhưng sự thừa nhận của xã hội và mọi người lại là ở các buổi tiệc cưới với những y phục trang trọng.
Lễ cưới trang trọng trong trang phục truyền thống.
Kiểu đám cưới truyền thống thường thấy ngày nay áp dụng các thủ tục đặt ra trong thời Minh Trị (1868-1912). Tùy theo từng địa phương, thủ tục cưới xin khác nhau rất nhiều, nhưng hầu hết các đám cưới theo kiểu truyền thống đều theo những phong tục như sau:

Trước hết, ngày tổ chức lễ cưới được chọn rất cẩn thận để tránh những ngày mang điềm xấu. Các lễ nghi đám cưới truyền thống bắt đầu một ngày trước đám cưới chính thức, khi cô dâu đi thăm đền chùa hoặc tổ chức liên hoan chia tay với cha mẹ và hàng xóm. Các lễ nghi trong ngày cưới chủ yếu diễn ra ở nhà chú rể. Khi cô dâu chia tay với cha mẹ để sang nhà chú rể phải mặc đồ trắng. Tại nhà chú rể, cô dâu mặc kimono màu trắng, đội loại mũ gọi là tsuno-kakushi, có nghĩa là “giấu sừng”, ám chỉ gạt bỏ và giấu đi sự ghen tuông của phụ nữ. Chú rể mặc kimono có gắn gia huy và quần chùng, gọi là hakama.
Trang phục của cô dâu chú rể trong ngày cưới.
Khi rước dâu về tới nhà sẽ tổ chức nhiều nghi lễ mà quan trọng nhất là việc đôi tân hôn hứa hẹn thề nguyền bằng cách trao các chén rượu sake cho nhau. Nghi thức này, tiếng Nhật gọi là sansan kudo, vốn xuất phát từ những gia đình quyền quý nhưng nay được coi là tiêu chuẩn trong các đám cưới kiểu truyền thống trên toàn Nhật Bản, theo đó cô dâu và chú rể 3 lần nhấp rượu sake trong một bộ 3 chiếc chén từ nhỏ đến lớn. Tiếp sau nghi thức này là giới thiệu gia đình hai họ và tiệc đón dâu. Khoảng 3 hoặc 5 ngày sau, người vợ và đôi khi cả chồng, trở về nhà mình, mang theo quà cho người thân và bạn bè. Nghi thức này gọi là satogaeri.
Đám cưới truyền thống về cơ bản là những lễ nghi thế tục theo phong tục tập quán địa phương. Đám cưới hiện đại ngày nay cũng vậy nhưng có thể có thêm một nghi thức tôn giáo, dẫu đôi tân hôn có thể chẳng theo tôn giáo nào. Các đám cưới Thần đạo – trở nên được ưa chuộng sau lễ cưới Thần đạo cho thái tử vào năm 1900 – phổ biến hơn các đám cưới theo kiểu Phật giáo và Thiên chúa giáo, tuy các đám cưới kiểu Thiên chúa giáo ngày càng phát triển như cái mốt ở Nhật.
Một điều tra của ngân hàng Sanwa vào năm 1992 cho thấy, chi phí trung bình cho một đám cưới là 2.966.000 yen, tức khoảng gần 30.000 đôla Mỹ theo thời giá khi đó. Số khách trung bình tại một buổi tiệc cưới là 81 người, kể cả cô dâu, chú rể, người mối mai. Như vậy trung bình chi 300 đến 400 đôla cho một vị khách. Nếu tính cả chi phí cho tuần trăng mật, chi phí dọn đến căn hộ mới và những khoản khác, trung bình tổng chi phí cho một đôi vợ chồng mới cưới ở Nhật Bản lên tới 65.000 – 75.000 đôla.
Địa điểm tổ chức lễ cưới cũng chuyển từ ở gia đình tới các đền, chùa và kể từ sau Thế chiến 2 là các khách sạn, nhà hàng, nhà thờ hoặc các phòng cưới đặc biệt. Nhiều người vẫn theo nghi thức về thăm nhà gái sau ngày cưới, nhưng hầu hết người Nhật thích trước đó hưởng tuần trăng mật ít nhất là 1 tuần. Tuy vẫn có nhiều đám cưới linh đình, tốn kém và cha mẹ chịu chi phí, cách tổ chức đang dần dần thay đổi vì không ít đôi vợ chồng muốn có một đám cưới độc đáo, theo sở thích riêng của họ.

Khám phá những nét đặc trưng đất nước Nhật Bản

Là một dân tộc có hàng ngàn năm lịch sử, từ một nước thất trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã nhanh chóng khôi phục lại đất nước tan hoang, hồi sinh và trở thành một trong những nước công nghiệp hàng đầu của thế giới. Nhật Bản luôn được biết đến là một nước có nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp hài hòa cái mới và cái cũ tạo nên nét đặc trưng riêng biệt của văn hóa Nhật Bản.
Khám phá những nét đặc trưng đất nước Nhật Bản
Hoa anh đào
Hoa Anh Đào
Hoa Anh Đào
Được thế giới biết đến với mĩ danh “đất nước hoa anh đào”. Hoa anh đào tượng trưng cho sắc đẹp, sự mong manh và trong trắng, là loại hoa “thoắt nở thoắt tàn” nên được các Samurai yêu thích. Nó tượng trưng cho “con đường chết” của họ. “Sống và chết như hoa anh đào”.
Núi Phú Sĩ
Ngọn núi có đỉnh được phủ tuyết trắng này là một điểm sáng trên hồ Yamanaka. Chắc chắn là bạn sẽ thấy quen bởi núi Phú Sĩ được chọn là biểu tượng của Nhật Bản mà.
Núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ
Đây là ngọn núi lửa cao 3.776 m và lần phun trào gần đây nhất xảy ra từ 300 năm trước. Từ lâu, núi Phú Sĩ là biểu tượng cho sự thanh bình và sức mạnh của quốc gia Nhật Bản. Đỉnh Phú Sĩ còn được biết tới với những cảnh đẹp suốt bốn mùa trong năm. Ngọn núi này thường là đề tài trong các bức họa và nhiếp ảnh nghệ thuật cũng như trong văn chương và âm nhạc
Cổng Torii
Mặt trời đang khuất sau ngọn núi và cổng Torii tại Miyajima rọi bóng xuống mặt nước. Đây là chiếc cổng Torii nổi tiếng được xây dựng vào năm 1875 và là cổng lớn nhất Nhật Bản (cao 16 m)
Cổng Torii
Theo truyền thống, Torii được xây dựng ở lối vào các đền thờ Shinto hay đền thờ Thần Đạo. Tuy nhiên ở các đền thờ Phật Giáo cũng có. Ở Nhật Bản, những người làm ăn thành công thường quyên tặng xây dựng Torii nhằm thể hiện lòng biết ơn. Chính vì vậy ở Nhật có rất nhiều Torii. Ví dụ đền thờ Fushimi Inari ở Kyoto có hàng ngàn Torii như thế.
Ruộng lúa
ruong-lua
Giống như ở Việt Nam, ruộng bậc thang ngập nước lấp lánh với những đốm lửa người dân tạo ra.Lúa đã được trồng ở Nhật ít nhất là 2.000 năm và là thành phần quan trọng trong chế độ ăn uống của người Nhật. Địa hình đồi núi của quốc gia này đặc biệt thích hợp cho việc trồng trọt các loại cây cho hạt.
Rừng trúc
Hãy đến thăm công viên Arashiyama ở phía tây Kyoto, bạn sẽ có cảm tưởng mình đang tham gia bộ phim “Thập diện mai phục”!
Rừng trúc ở Nhật Bản
Rừng trúc ở Nhật Bản
Được biết đến với khả năng “lớn nhanh như thổi” , trúc được sử dụng rất nhiều ở Nhật Bản, đặc biệt là ở Kyoto – nơi mà trúc được dùng làm rổ, sáo, ống dẫn, ghế, hàng rào … Thậm chí trúc còn dùng để làm búp bê và các đồ dùng cho nghi lễ trà đạo.
Hoa đỗ quyên
Hoa Đỗ Quyên
Đỗ Quyên hoa
Nhật Bản nổi tiếng as nghệ thuật cây cảnh, đôi on them coi which as vẻ đẹp tinh thần. Hoạt động tham quan all vườn thực vật is one hoạt động phổ biến. Hoa đỗ quyên nở to each cụm, đầy màu sắc in one khu vườn bên ngoài Tokyo.
Chợ cá
Dương like chợ cá Tsukiji tại Tokyo is one mê cung. Nơi đây bày bán tất cả các loại hải sản, từ lươn biển until bạch tuộc - phản ánh nhu cầu đa dạng of người dân Nhật Bản. Cá từ lâu already nguồn cung cấp protein quan trọng trong bữa ăn of người dân đất nước mặt trời mọc.
Hạc Nhật Bản
Chim Hạc
Chim Hạc
Đây là loài sếu lớn nhất và hiếm thứ 2 trên thế giới. Tại Nhật Bản, sếu được coi là biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và tính trung thực. Loài sếu tuyệt đẹp này có một vệt dài màu đỏ trên đỉnh đầu. Số lượng hiện giờ của chúng là khoảng 1.500 con. Tất cả Hạc Nhật Bản đều di cư, chỉ trừ một số ít tại Hokkaido.
Đèn lồng cá chép
Đèn lồng cá chép
Đèn lồng cá chép
Chính xác thì đây là cá chép Koi – biểu tượng của sự bản lĩnh, tính kiên định và hoài bão của đàn ông Nhật. Đèn lồng cá chép thường được treo vào ngày lễ Koinobori dành cho các bé trai vào ngày 5 tháng 5 hàng năm.
Geisha
Nam giới thuộc tầng lớp thượng lưu tại Nhật Bản giải trí với âm nhạc, múa hát và cả nói chuyện. Một Geisha Nhật Bản càng có giá trị khi họ càng xinh đẹp và học được càng nhiều kĩ năng. Các biểu tượng văn hoá nổi tiếng Nhật Bản này đã biểu diễn những kĩ năng nghệ thuật truyền thống của họ trong hơn 250 năm.
Geisha
Geisha
Ngày nay, số lượng Geisha tại Nhật đã giảm đi rất nhiều, khoảng dưới 1.000 người. Người ta hiếm khi nhìn thấy một Geisha hay Maiko (Geisha học việc) ở Nhật. Tuy nhiên, khi đến khu Gion ở Kyoto rất dễ nhìn thấy một Maiko đang trên đường đến hoặc về từ một cuộc hẹn.
Đèn lồng giấy
Đèn lồng giấy Nhật Bản
Đèn lồng giấy Nhật Bản
Tài nghệ khéo léo của người thợ thủ công kết hợp cùng khả năng sáng tạo tuyệt vời của người nghệ sỹ đã mang lại những sản phẩm mới và thú vị. Chiếc đèn lồng giấy tự bật sáng sau một tiếng vỗ tay là thành quả của một dự án cộng tác giữa nghệ nhân làm đèn và nhà thiết kế.
Bánh gạo
Bánh gạo Mochi
Bánh gạo Mochi
Bánh gạo hay còn gọi là Mochi, là món ăn yêu thích tại Nhật Bản đặc biệt trong năm mới. Loại bánh truyền thống này được làm để biếu người thân, trang trí trong nhà hoặc phục vụ cho hoạt động tại các đền chùa. Bánh gạo được làm từ bột, gạo nếp và nhân thường là đậu ngọt. Trong các siêu thị, bánh được bán rất nhiều và có thể ăn với súp.
Võ sĩ Sumô
Sumo Nhật
Sau khi được nhận được sự bảo trợ của Thiên Hoàng (Hoàng đế Nhật Bản), môn thể thao truyền thống từ 1.500 năm trước này tiếp tục phát triển. Mỗi trận đấu Sumo diễn ra trong thời gian ngắn nhưng có cường độ cao, hầu hết các trận đấu vòng cuối cùng kéo dài chưa đến 1 phút.
Lễ hội ở Hirosaki
Lễ hội Nebuta Matsuri ở Hirosaki (ngày 1-7 tháng 8) là cuộc diễu hành của những chiếc lồng đèn được thắp sáng với mục đich mô phỏng những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại.
Lễ hội ở Hirosaki
Lễ hội ở Hirosaki
Những chiếc phao được làm theo hình các chiến binh hoặc các con vật. Những lễ hội truyền thống này là một yếu tố văn hoá vô cùng quan trọng ở Nhật Bản.
Lâu đài Himeji-Jo (lâu đài hạc trắng)
Được UNESCO công nhận là một trong những di sản của thế giới năm 1993, Lâu đài Himeji là một trong những nguyên mẫu điển hình còn tồn tại của kiến trúc Nhật Bản thời cận đại.
Lâu đài Himeji-Jo
Lâu đài Himeji-Jo
Himeji cùng với Matsumoto và Kunamoto hợp thành cái gọi là “Tam đại quốc bảo thành”. Trong 3 thành, Himeji là nổi tiếng nhất.
Roppongi Hills, Tokyo
Roppongi-Hills
Một bức tường kỹ thuật số trong Rappongi Hills, khu mua sắm và vui chơi giải trí phức hợp tại Tokyo.
Roppongi Hills còn bao gồm một sân vận động, các nhà hàng, nhà ở cao cấp và tháp Mori – từ đây có thể nhìn thấy toàn bộ Tokyo. Bảo tàng nghệ thuật và các triển lãm diễn ra ở đây khiến Roppongi là một điểm đến văn hoá phổ biến.
Thuỷ cung
Thuỷ cung
Thuỷ cung
Tại Thủy Cung người ta có thể tìm thấy rất nhiều sinh vật biển đang hiện hữu ngoài khơi hòn đảo cận nhiệt đới này. Thuỷ cung Churaumi là một trong bốn khu “Blue Zones”, nơi ngưòi dân có thể đến và hưởng thụ cuộc sống của mình.